Truong chinh tri Nguyen Van Cu
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ NGUYỄN VĂN CỪ TỈNH BẮC NINH - Số 08 đường Thành Cổ - phường vệ An - thành phố Bắc Ninh
Liên kết website
Số lượt truy cập
1905827
thuc pham chuc nang Báo bắc ninh
Bắc Ninh phát triển
BÁO CÁO THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH SAU 20 NĂM TÁI LẬP TỈNH (1997 - 2016)
Ngày 1-1-1997, tỉnh Bắc Ninh được tái lập và chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới theo Nghị quyết của Quốc hội khoá IX tại kỳ họp thứ 10, ngày 15-11-1996. Nhìn lại chặng đường 20 năm qua đầy gian nan, thử thách nhưng cũng rất đỗi tự hào.

20 năm trước, trong những ngày đầu mới tái lập gặp muôn vàn khó khăn, thách thức, điểm xuất phát kinh tế thấp (sản xuất nông nghiệp chiếm 45% GDP của tỉnh), kết cấu hạ tầng vừa thiếu, vừa yếu; song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, điều hành của chính quyền các cấp, cùng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, trên cơ sở xác định đúng chiến lược, lộ trình, bước đi, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, từ một tỉnh nông nghiệp thuần túy, đến nay Bắc Ninh đã cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, với nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội đứng trong tốp cao nhất cả nước, nổi bật là:

- Quy mô GRDP đứng thứ 6 toàn quốc.

- GRDP bình quân đầu người đứng thứ 2 cả nước.

- Giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu xếp thứ 2 cả nước.

- Thu hút vốn FDI đứng thứ 5 cả nước.

- Thu ngân sách xếp thứ 10 toàn quốc.

- Tiêu chí đạt chuẩn NTM bình quân 17,16 tiêu chí/xã (cả nước 13,1 tiêu chí/xã).

- Là tỉnh đầu tiên trong cả nước đạt chuẩn phổ cập cho trẻ mầm non 5 tuổi, là 1 trong 2 tỉnh đầu tiên đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2.

- Đứng đầu cả nước về công tác phổ cập giáo dục, tỷ lệ phòng học kiên cố các cấp học tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia.

- Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) nhiều năm trong nhóm 10 tỉnh tốt nhất cả nước. Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI) xếp thứ 2 toàn quốc.

MỘT SỐ THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC SAU 20 NĂM TÁI LẬP TỈNH

1. Kinh tế tăng trưởng cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới mô hình nổi bật về phát triển kinh tế địa phương trong thời kỳ đổi mới

Kinh tế phát triển toàn diện, tốc độ tăng trưởng luôn duy trì ở mức hai con số, bình quân giai đoạn 1997-2016 đạt 15,1%/năm; GRDP năm 2016 (giá so sánh 1994) ước đạt 25.996 tỷ đồng, gấp 15,2 lần năm 1997; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, năm 2016: công nghiệp-xây dựng 74,3%, dịch vụ 20,7%, nông, lâm nghiệp và thủy sản 5%, (năm 1997 tỷ lệ tương ứng là: 23,8% - 31,2% - 45%). GRDP bình quân đầu người năm 2016 đạt trên 4.847 USD, gấp 24,7 lần năm 1997.

1.1. Từ một tỉnh thuần nông, Bắc Ninh đã vươn lên trở thành tỉnh công nghiệp với sự đồng bộ trong phát triển các khu công nghiệp gắn với đô thị, cụm công nghiệp và phát huy lợi thế trong phát triển làng nghề.

1.2. Sản xuất nông nghiệp vượt qua khó khăn về thời tiết, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho phát triển công nghiệp và đô thị.

Thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, gắn với phát triển đô thị. Tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất; đầu tư hệ thống hạ tầng: điện, đường, trường, trạm, công trình thủy lợi, nước sạch, vệ sinh môi trường, thiết chế văn hóa. Đến nay, số tiêu chí đạt chuẩn bình quân là 17,16 tiêu chí/xã (bình quân khu vực đồng bằng sông Hồng đạt 15,4 tiêu chí/xã); là một trong những tỉnh có số tiêu chí đạt chuẩn ở mức cao trong cả nước. Có 58 xã được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới và 02 đơn vị cấp huyện là huyện Tiên Du và thị xã Từ Sơn đạt chuẩn nông thôn mới.

1.3. Hoạt động thương mại - dịch vụ tiếp tục phát triển; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng cao. Xuất khẩu có bước đột phá, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá giai đoạn 1997-2016 tăng bình quân 42%/năm; năm 2016 xuất khẩu đạt 22,8 tỷ USD, gấp 1.120 lần so với năm 1997.

1.4. Ngay từ khi tái lập, bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ cấp bách, công tác quy hoạch được quan tâm chỉ đạo xây dựng theo hướng đồng bộ như: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch vùng, chương trình phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch các ngành, lĩnh vực và đất đai, với mục tiêu xuyên suốt là xây dựng Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015 và xây dựng Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào những năm 20 của thế kỷ XXI.

1.5. Công tác phát triển đô thị được tỉnh quan tâm, theo hướng tổ chức không gian kinh tế đô thị và phát triển theo hướng hiện đại gắn với sinh thái môi trường bền vững, nâng cấp và chỉnh trang đô thị, các thị trấn, thị tứ, trung tâm kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện; hình thành chùm, chuỗi đô thị. Đến nay, toàn tỉnh có 1 đô thị loại II, 1 đô thị loại IV và 6 đô thị loại V, 64 khu đô thị và hơn 200 khu nhà ở, khu dân cư dịch vụ được quy hoạch với tổng diện tích khoảng 6.700 ha. Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 9% năm 1997 lên 28,7% năm 2016.

1.6. Tập trung cao các nguồn lực cho đầu tư phát triển, đa dạng hóa nguồn vốn và hình thức đầu tư; Tổng vốn đầu tư phát triển trong 20 năm ước đạt 343 nghìn tỷ đồng, bằng 44,5%GRDP; tăng bình quân 23,5%/năm; năm 2016 đạt 62.592 tỷ đồng.

Hạ tầng giao thông có sự phát triển vượt bậc, ngay từ khi mới tái lập, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết về phát triển giao thông nông thôn, đồng thời phối hợp với Trung ương quan tâm đầu tư thay đổi diện mạo các tuyến đường giao thông huyết mạch với quy mô hiện đại trong đó có công trình tiêu biểu là, các QL1A, QL18, QL38, QL17, Cầu Hồ, cầu Bình Than và nhiều tuyến tỉnh lộ. Hạ tầng đô thị phát triển mạnh, thị xã Bắc Ninh đã trở thành đô thị loại 2; huyện Từ Sơn thành thị xã, …

1.7. Thu ngân sách nhà nước đạt cao; tập trung chi đầu tư phát triển; quy mô tín dụng được mở rộng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển, thu ngân sách nhà nước tăng nhanh, bền vững. Tổng thu ngân sách giai đoạn 1997-2016 tăng bình quân 26,3%/năm; năm 2016 ước đạt 17,4 nghìn tỷ đồng, gấp 87,7 lần năm 1997; tổng chi ngân sách địa phương 15,4 nghìn tỷ đồng, gấp 48,1lần năm 1997. Dư nợ cho vay cuối năm 2016 đạt 55,5 nghìn tỷ đồng, gấp 164 lần năm 1997.

2. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội phát triển, nhiều chỉ tiêu  đứng đầu của cả nước; thực hiện tốt chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và tiến bộ công bằng xã hội, quảng bá hình ảnh “Bắc Ninh văn hiến, năng động và phát triển”.

2.1. Chất lượng giáo dục thực chất ở các cấp học và trình độ đào tạo có nhiều chuyển biến; luôn đứng trong tốp 10 tỉnh dẫn đầu cả nước về phong trào giáo dục và kết quả thi Đại học, Cao đẳng; Cơ sở vật chất được đầu tư theo hướng hiện đại; tỷ lệ phòng học kiên cố các cấp học đạt 98,5%, tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 87,4%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 18,1% năm 1997 lên 63,2% năm 2016. Triển khai “Chương trình Sữa học đường” cho 100% trường mầm non trên phạm vi toàn tỉnh với 84.300 trẻ thụ hưởng. Triển khai chương trình học ngoại ngữ, tin học cho sinh viên, học sinh.

2.2. Chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày một tốt hơn.

2.3. Hệ thống thiết chế văn hóa được đầu tư mở rộng, nâng cấp. Công tác quản lý, trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử, văn hoá được quan tâm:

Hoạt động thể dục - thể thao quần chúng ngày càng phát triển. Từ xếp nhóm cuối toàn quốc, đã vươn lên nhóm trung bình khá trong tổng số 63 tỉnh, thành phố; trong đó, có một số vận động viên đã giành được HCV Đông Nam Á, giải trẻ châu á và thế giới.

2.4. Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo được quan tâm, cải thiện đời sống nhân dân; có một số chính sách đi trước hoặc thực hiện ở mức cao hơn so với quy định của Trung ương như: triển khai tích cực việc hỗ trợ xây nhà cho hộ nghèo và hộ gia đình chính sách; bảo hiểm y tế cho các hộ cận nghèo, chế độ cho người cao tuổi, đảng viên được tặng huy hiệu 40 năm tuổi Đảng trở lên, hỗ trợ kinh phí thắp sáng điện nông thôn. Năm 1997, chỉ số phát triển con người (HDI) của Bắc Ninh mới đạt 0,67 và ở nhóm tỉnh có chỉ số HDI thấp, năm 2016 đã đạt 0,84 và đã thuộc nhóm cao. Hệ số chênh lệch giàu nghèo (Gini) luôn ở ngưỡng an toàn; tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2016 còn 2,59% (theo chuẩn nghèo đa chiều).

3. Công tác quản lý đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường được tăng cường, có nhiều cố gắng trong khắc phục ô nhiễm môi trường để phát triển bền vững theo hướng tăng trưởng xanh; đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống.

4. Cải cách hành chính được triển khai quyết liệt, đồng bộ, nâng cao năng lực quản lý và chất lượng điều hành, xây dựng chính quyền kiến tạo phát triển và phục vụ. Tiếp tục củng cố bộ máy chính quyền các cấp và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có tính chuyên nghiệp, kỹ năng hành chính cao, kỷ cương, kỷ luật cải cách hành chính được thực hiện nghiêm túc.

5. Quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, Thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được tích cực chỉ đạo và thực hiện; không để xảy ra khiếu kiện đông người; thực hiện tốt các kết luận sau thanh tra, kiểm tra.

6. Công tác xây dựng Đảng đạt kết quả tích cực, hệ thống chính trị luôn được chú trọng, củng cố, kiện toàn, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng được đổi mới, dân chủ trong đảng được mở rộng, gần dân, sát dân. Thực hiện tốt Quy định của Tỉnh ủy về việc mỗi cấp ủy viên định kỳ đi cơ sở dự sinh hoạt chi bộ.

Với những thành quả to lớn của 20 năm qua, bằng truyền thống văn hiến, cách mạng và tư duy sáng tạo, tinh thần đoàn kết, quyết tâm, tin tưởng rằng Bắc Ninh sẽ vượt qua những khó khăn thách thức, hoàn thành thắng lợi mục tiêu lớn trong giai đoạn mới, đáp ứng sự kì vọng của Đảng bộ, chính quyền và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, phấn đấu xây dựng tỉnh Bắc Ninh giàu đẹp, văn minh, hiện đại./.

 

Trích “BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI,

QUỐC PHÒNG, AN NINH, CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN MTTQ VÀ CÁC ĐOÀN THỂ SAU 20 NĂM TÁI LẬP TỈNH (1997 - 2016)”

Nguồn: BCH Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh

Google Map
Học viện chính trị quốc gia HCM Ủy ban nhân dân tỉnh Học viện chính trị khu vực 1 Trường chính trị Lê Hồng Phong Hà Nội Trường chính trị Nghệ An Trường chính trị Thanh Hóa